Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 30/2020/NĐ-CP

Điều 35. Trách nhiệm quản lý công tác văn thư

Căn cứ: Điều 35, 30/2020/NĐ-CP — Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư

Tóm tắt

Điều 35 quy định Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác văn thư. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, doanh nghiệp nhà nước có trách nhiệm cụ thể trong phạm vi quản lý.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác văn thư.
  • ▸Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, doanh nghiệp nhà nước ban hành và hướng dẫn thực hiện quy định về công tác văn thư.
  • ▸Kiểm tra việc thực hiện; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.
  • ▸Tổ chức, chỉ đạo nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ.
  • ▸Bố trí kinh phí hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật, quản lý Hệ thống quản lý tài liệu điện tử.
  • ▸Bố trí nhân sự, vị trí, diện tích, phương tiện làm việc bảo đảm bí mật, an toàn con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật.
  • ▸Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng; quản lý thi đua, khen thưởng; sơ kết, tổng kết.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn cơ quan chịu trách nhiệm chính (Bộ Nội vụ) với các cơ quan khác.
  • Bỏ sót trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước.
  • Cho rằng UBND các cấp không có trách nhiệm quản lý công tác văn thư.

Giải thích

Điều 35 nêu rõ Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác văn thư. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, doanh nghiệp nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm: ban hành và hướng dẫn thực hiện quy định; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ; bố trí kinh phí hiện đại hóa, quản lý Hệ thống quản lý tài liệu điện tử; bố trí nhân sự, vị trí, diện tích, phương tiện làm việc bảo đảm bí mật, an toàn con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, quản lý thi đua, khen thưởng; sơ kết, tổng kết về công tác văn thư.
Nguyên văn Điều 35. Trách nhiệm quản lý công tác văn thư
1. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác văn thư. 2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thu ộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, doanh nghiệp nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: a) Căn cứ quy định của pháp luật, ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác văn thư. b) Kiểm tra việc thực hiện các quy định về công tác văn thư đối với các cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi ph ạm pháp luật về công tác văn thư theo thẩm quyền. c) Tổ chức, chỉ đạo việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác văn thư. d) Bố trí kinh phí để hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác văn thư, quản lý và vận hành hiệu quả Hệ thống quản lý tài liệu điện tử. đ) Bố trí nhân sự, vị trí, di ện tích, phương tiện làm việc phù hợp, bảo đảm giữ gìn bí mật nhà nước, bảo quản an toàn con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật của cơ quan, tổ chức. e) Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác văn thư; quản lý công tác thi đua, khen thưởng trong công tác văn thư. g) Sơ kết, tổng kết về công tác văn thư trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương. Điề u 36. Kinh phí cho công tác văn thư 1. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác văn thư trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Đối với doanh nghiệp nhà nước việc bố trí kinh phí được thực hiện theo quy định hiện hành. 2. Kinh phí cho công tác văn thư được sử dụng vào các công việc a) Mua sắm, nâng cấp hệ thống, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, vật tư tiêu hao phục vụ công tác văn thư. b) Bảo đảm thông tin liên lạc, chuyển phát văn bản, số hóa văn bản. c) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ trong công tác văn thư. d) Các hoạt động khác phục vụ công tác văn thư.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.