Điều 55. Cấp giấy phép sử dụng, đăng ký, khai báo công cụ hỗ trợ
Căn cứ: Điều 55, 42/2024/QH15 — Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15
Tóm tắt
Điều 55 quy định về cấp giấy phép sử dụng, đăng ký, khai báo công cụ hỗ trợ cho các đối tượng không thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng. Thủ tục gồm hồ sơ, nơi nộp, thời hạn giải quyết và các trường hợp cấp lại. Đối tượng thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ý chính cần nhớ
- ▸Công cụ hỗ trợ trang bị cho đối tượng không thuộc Bộ Quốc phòng phải được cấp giấy phép sử dụng hoặc đăng ký, khai báo với cơ quan Công an có thẩm quyền.
- ▸Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép sử dụng: văn bản đề nghị (ghi rõ thông tin), bản sao hóa đơn, bản sao phiếu xuất kho hoặc giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp.
- ▸Cấp lại giấy phép sử dụng khi thay đổi thông tin về cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc mất, hư hỏng giấy phép.
- ▸Nơi nộp hồ sơ: Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết TTHC của Bộ Công an hoặc gửi qua đường bưu chính; nếu nộp trực tiếp thì bổ sung thông tin người liên hệ.
- ▸Thời hạn cấp giấy phép sử dụng: 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; nếu không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- ▸Giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ chỉ cấp cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được trang bị và không có thời hạn.
- ▸Đối tượng thuộc Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ, Cảnh sát biển, Cơ yếu và câu lạc bộ, cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm giấy phép sử dụng công cụ hỗ trợ có thời hạn (thực tế là không có thời hạn).
- Nhầm thời hạn cấp giấy phép sử dụng là 03 ngày làm việc (thực tế là 07 ngày làm việc).
- Nhầm đối tượng được cấp giấy phép sử dụng: chỉ cấp cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được trang bị, không cấp cho cá nhân.
Giải thích
Nguyên văn Điều 55. Cấp giấy phép sử dụng, đăng ký, khai báo công cụ hỗ trợ
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.