Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 89/2025/QH15

Điều 73. Kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước, báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

Căn cứ: Điều 73, 89/2025/QH15 — Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15

Tóm tắt

Quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước trước khi trình Quốc hội và kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước khi gửi HĐND cấp tỉnh.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Kiểm toán nhà nước kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước trước khi trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn.
  • ▸Kiểm toán nhà nước kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước khi gửi HĐND cấp tỉnh xem xét, phê chuẩn.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời điểm kiểm toán: đối với ngân sách nhà nước là trước khi trình Quốc hội; đối với ngân sách địa phương là trước khi gửi HĐND cấp tỉnh.
  • Cho rằng Kiểm toán nhà nước kiểm toán sau khi Quốc hội hoặc HĐND phê chuẩn.

Giải thích

Điều 73 quy định trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước trong việc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách. Cụ thể, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước trước khi trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn. Đối với báo cáo quyết toán ngân sách địa phương, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trước khi gửi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê chuẩn. Điều này đảm bảo tính khách quan và chính xác của báo cáo quyết toán trước khi cơ quan quyền lực nhà nước phê chuẩn.
Nguyên văn Điều 73. Kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước, báo cáo quyết
toán ngân sách địa phương 1. Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước trước khi trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn. 2. Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương trước khi gửi Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê chuẩn.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.