Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 114/2025/UBTVQH15

Điều 13. Quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Ban của HĐND, đại biểu HĐND

Căn cứ: Điều 13, 114/2025/UBTVQH15 — Nghị quyết 114/2025/UBTVQH15 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

Tóm tắt

Quy định thẩm quyền, thời hạn quyết định chương trình giám sát năm sau của Ban của HĐND và đại biểu HĐND; trách nhiệm báo cáo, tổ chức thực hiện, điều chỉnh chương trình và yêu cầu bảo đảm tính khả thi, tránh trùng lặp.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Trưởng Ban của HĐND chỉ đạo xây dựng dự kiến chương trình giám sát, trình Ban xem xét, thông qua chương trình giám sát năm sau chậm nhất là ngày 20 tháng 12 của năm trước.
  • ▸Ban của HĐND có trách nhiệm báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp về chương trình giám sát của mình.
  • ▸Kế hoạch thực hiện chương trình giám sát cần nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, phạm vi, hình thức giám sát, đối tượng chịu sự giám sát; phân công thành viên Ban tổ chức thực hiện; tiến độ thực hiện, công tác tổ chức, phối hợp thực hiện.
  • ▸Trường hợp cần thiết do yêu cầu của thực tiễn, Ban của HĐND quyết định điều chỉnh chương trình giám sát và báo cáo Thường trực HĐND.
  • ▸Đại biểu HĐND quyết định chương trình giám sát năm sau của mình (nếu có) và báo cáo Thường trực HĐND qua Tổ đại biểu HĐND chậm nhất là ngày 30 tháng 12 của năm trước.
  • ▸Thường trực HĐND chịu trách nhiệm tổ chức để đại biểu HĐND thực hiện chương trình giám sát; trường hợp cần thiết, đại biểu HĐND điều chỉnh chương trình giám sát của mình và báo cáo Thường trực HĐND qua Tổ đại biểu HĐND để điều hòa, phối hợp.
  • ▸Số lượng, nội dung giám sát trong năm phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với khả năng tổ chức thực hiện; tránh trùng lặp về nội dung, thời gian, địa bàn, đối tượng giám sát; hình thức giám sát phải phù hợp với nội dung giám sát.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn thông qua chương trình giám sát của Ban của HĐND (20/12) với thời hạn báo cáo chương trình giám sát của đại biểu HĐND (30/12).
  • Nhầm Trưởng Ban của HĐND trình HĐND thông qua chương trình giám sát của Ban; thực tế trình Ban của HĐND xem xét, thông qua.
  • Nhầm đại biểu HĐND báo cáo Thường trực HĐND trực tiếp mà không qua Tổ đại biểu HĐND.

Giải thích

Điều 13 quy định việc quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Ban của HĐND, đại biểu HĐND. Khoản 1 nêu Trưởng Ban của HĐND chỉ đạo xây dựng dự kiến chương trình giám sát, trình Ban của HĐND xem xét, thông qua chương trình giám sát năm sau chậm nhất là ngày 20 tháng 12 của năm trước; Ban của HĐND có trách nhiệm báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp về chương trình giám sát của mình. Trưởng Ban của HĐND chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Ban; kế hoạch thực hiện cần nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, phạm vi, hình thức giám sát, đối tượng chịu sự giám sát; phân công thành viên Ban tổ chức thực hiện; tiến độ thực hiện, công tác tổ chức, phối hợp thực hiện. Trường hợp cần thiết do yêu cầu của thực tiễn, Ban của HĐND quyết định điều chỉnh chương trình giám sát và báo cáo Thường trực HĐND. Khoản 2 quy định đại biểu HĐND quyết định chương trình giám sát năm sau của mình (nếu có) và báo cáo Thường trực HĐND qua Tổ đại biểu HĐND chậm nhất là ngày 30 tháng 12 của năm trước; Thường trực HĐND chịu trách nhiệm tổ chức để đại biểu HĐND thực hiện chương trình giám sát; trường hợp cần thiết, đại biểu HĐND điều chỉnh chương trình giám sát của mình và báo cáo Thường trực HĐND qua Tổ đại biểu HĐND để điều hòa, phối hợp. Khoản 3 yêu cầu số lượng, nội dung giám sát trong năm phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với khả năng tổ chức thực hiện của Ban của HĐND, đại biểu HĐND và tình hình thực tế; tránh trùng lặp về nội dung, thời gian, địa bàn, đối tượng giám sát; hình thức giám sát phải phù hợp với nội dung giám sát.
Nguyên văn Điều 13. Quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết này và những nội dung giám sát được Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân giao, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân chỉ đạo xây dựng dự kiến chương trình giám sát, trình Ban của Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua chương trình giám sát năm sau chậm nhất là ngày 20 tháng 12 của năm trước. Ban của Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp về chương trình giám sát của mình. Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Ban. Kế hoạch thực hiện chương trình giám sát cần nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, phạm vi, hình thức giám sát, đối tượng chịu sự giám sát; phân công thành viên Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức thực hiện; tiến độ thực hiện, công tác tổ chức, phối hợp thực hiện. Trường hợp cần thiết do yêu cầu của thực tiễn, Ban của Hội đồng nhân dân quyết định điều chỉnh chương trình giám sát và báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân. 2. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết này, đại biểu Hội đồng nhân dân quyết định chương trình giám sát năm sau của mình (nếu có) và báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân qua Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là ngày 30 tháng 12 của năm trước. Thường trực Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện chương trình giám sát. Trường hợp cần thiết do yêu cầu của thực tiễn, đại biểu Hội đồng nhân dân điều chỉnh chương trình giám sát của mình và báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân qua Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân để điều hòa, phối hợp. 3. Số lượng, nội dung giám sát trong năm phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với khả năng tổ chức thực hiện của Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình thực tế; tránh trùng lặp về nội dung, thời gian, địa bàn, đối tượng giám sát; hình thức giám sát phải phù hợp với nội dung giám sát.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.