Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 89/2025/QH15

Điều 21. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Căn cứ: Điều 21, 89/2025/QH15 — Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 21 quy định Ủy ban Kinh tế và Tài chính là cơ quan chủ trì thẩm tra các nội dung tài chính - ngân sách quan trọng trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời giám sát việc thực hiện pháp luật và chính sách tài chính - ngân sách, giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực này và kiến nghị các vấn đề tài chính - ngân sách.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thẩm tra dự án luật, nghị quyết, pháp lệnh và báo cáo, dự án khác về tài chính - ngân sách được giao.
  • ▸Chủ trì thẩm tra dự toán NSNN, phương án phân bổ NS trung ương, phương án điều chỉnh dự toán, báo cáo thực hiện NSNN và quyết toán NSNN.
  • ▸Chủ trì thẩm tra nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi NSNN do Chính phủ trình.
  • ▸Thẩm tra các chế độ chi ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan nhiệm vụ kinh tế - xã hội.
  • ▸Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết, pháp lệnh về tài chính - ngân sách; giám sát thực hiện NSNN và chính sách tài chính - ngân sách.
  • ▸Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và văn bản liên tịch về tài chính - ngân sách.
  • ▸Kiến nghị các vấn đề trong lĩnh vực tài chính - ngân sách.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm Ủy ban Kinh tế và Tài chính chỉ thẩm tra mà không giám sát; thực tế Điều 21 giao cả thẩm tra và giám sát.
  • Nhầm chủ trì thẩm tra dự toán NSNN thuộc Ủy ban khác; Điều 21 quy định Ủy ban Kinh tế và Tài chính chủ trì.

Giải thích

Điều 21 xác định Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội có hai nhóm nhiệm vụ, quyền hạn chính: thẩm tra và giám sát. Về thẩm tra, Ủy ban thẩm tra dự án luật, nghị quyết, pháp lệnh và các báo cáo, dự án khác về tài chính - ngân sách được giao; chủ trì thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán, báo cáo thực hiện ngân sách và quyết toán ngân sách nhà nước, nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ chi ngân sách nhà nước. Ủy ban còn thẩm tra các chế độ chi ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng. Về giám sát, Ủy ban giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết, pháp lệnh về tài chính - ngân sách; giám sát thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính - ngân sách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản liên tịch ở trung ương về lĩnh vực này. Cuối cùng, Ủy ban kiến nghị các vấn đề trong lĩnh vực tài chính - ngân sách.
Nguyên văn Điều 21. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội
1. Thẩm tra dự án luật, nghị quyết, pháp lệnh và các báo cáo, dự án khác về lĩnh vực tài chính - ngân sách do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao. 2. Chủ trì thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước, báo cáo về thực hiện ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách nhà nước, nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi ngân sách nhà nước do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 3. Thẩm tra các chế độ chi ngân sách quan trọng, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước do Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 4. Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách; giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính - ngân sách. 5. Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương về lĩnh vực tài chính - ngân sách. 6. Kiến nghị các vấn đề trong lĩnh vực tài chính - ngân sách.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.