Bài học
117/2025/QH15
Điều 22. Giải mật
Căn cứ: Điều 22, 117/2025/QH15 — Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15
Tóm tắt
Điều 22 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15 quy định các trường hợp giải mật, thủ tục giải mật đối với từng trường hợp, thẩm quyền thành lập hội đồng giải mật, trách nhiệm của cơ quan nhận thông báo và xử lý đối với tài liệu lưu trữ lịch sử.
Ý chính cần nhớ
- ▸Bí mật nhà nước được giải mật khi: hết thời hạn bảo vệ và gia hạn; không còn thuộc danh mục; hoặc giải mật trước thời hạn để phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập, hợp tác quốc tế.
- ▸Giải mật do không còn thuộc danh mục: cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước phải đóng dấu/xác định và thông báo bằng văn bản đến các bên liên quan.
- ▸Giải mật trước thời hạn: người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước quyết định giải mật và thành lập hội đồng giải mật.
- ▸Hội đồng giải mật gồm đại diện lãnh đạo cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước làm Chủ tịch; đại diện cơ quan trực tiếp soạn thảo, tạo ra bí mật nhà nước và thành phần khác do người có thẩm quyền quyết định.
- ▸Hội đồng xem xét giải mật toàn bộ hoặc một phần, báo cáo người có thẩm quyền quyết định bằng văn bản.
- ▸Bí mật sau giải mật phải được đóng dấu/xác định; giải mật một phần thì quyết định phải thể hiện đầy đủ nội dung thông tin giải mật.
- ▸Thời hạn thông báo quyết định giải mật: chậm nhất 15 ngày kể từ ngày có quyết định.
- ▸Hồ sơ giải mật lưu trữ gồm: quyết định thành lập hội đồng, bí mật đề nghị giải mật, biên bản họp hội đồng, quyết định giải mật và tài liệu khác có liên quan.
- ▸Đối với bí mật nhà nước do Lưu trữ lịch sử lưu trữ, nếu không xác định được cơ quan xác định bí mật nhà nước thì Lưu trữ lịch sử quyết định việc giải mật theo pháp luật về lưu trữ.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm thời hạn thông báo giải mật thành 10 ngày hoặc 20 ngày.
- Cho rằng giải mật trước thời hạn không cần thành lập hội đồng giải mật.
- Nhầm Chủ tịch hội đồng giải mật là đại diện cơ quan trực tiếp soạn thảo, trong khi Chủ tịch là đại diện lãnh đạo cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước.
Giải thích
Điều 22 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15 quy định bí mật nhà nước được giải mật trong ba trường hợp: đương nhiên hết thời hạn bảo vệ và gia hạn; không còn thuộc danh mục bí mật nhà nước; hoặc giải mật trước thời hạn để phục vụ yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập, hợp tác quốc tế. Với trường hợp không còn thuộc danh mục, cơ quan xác định bí mật nhà nước phải đóng dấu hoặc có văn bản/hình thức phù hợp xác định việc giải mật và thông báo đến các bên liên quan. Với giải mật trước thời hạn, người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước quyết định giải mật và thành lập hội đồng giải mật. Hội đồng gồm đại diện lãnh đạo cơ quan xác định bí mật làm Chủ tịch, đại diện cơ quan trực tiếp soạn thảo, tạo ra bí mật và thành phần khác do người có thẩm quyền quyết định. Hội đồng xem xét giải mật toàn bộ hoặc một phần, báo cáo người có thẩm quyền quyết định bằng văn bản. Sau khi giải mật phải đóng dấu/xác định; nếu giải mật một phần thì quyết định phải thể hiện đầy đủ nội dung thông tin giải mật. Thời hạn thông báo chậm nhất 15 ngày kể từ ngày có quyết định. Hồ sơ giải mật phải được lưu trữ theo quy định.
Nguyên văn Điều 22. Giải mật
1. Bí mật nhà nước được giải mật trong các trường hợp sau đây:
a) Bí mật nhà nước đương nhiên được giải mật khi hết thời hạn bảo vệ bí
mật nhà nước quy định tại Điều 19 của Luật này và thời gian gia hạn bảo vệ bí
mật nhà nước quy định tại Điều 20 của Luật này;
b) Không còn thuộc danh mục bí mật nhà nước;
c) Bí mật nhà nước được giải mật trước thời hạn để phục vụ yêu cầu bảo vệ
lợi ích quốc gia, dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập, hợp tác quốc tế.
2. Giải mật đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì
cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước phải đóng dấu, có văn bản hoặc hình
thức phù hợp khác xác định việc giải mật và thông báo bằng văn bản đến cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
3. Giải mật đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này được
quy định như sau:
a) Người có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước thì có thẩm quyền
quyết định giải mật và thành lập hội đồng giải mật;
b) Hội đồng giải mật bao gồm: đại diện lãnh đạo cơ quan, tổ chức xác
định bí mật nhà nước làm Chủ tịch hội đồng giải mật, đại diện cơ quan, tổ chức
trực tiếp soạn thảo, tạo ra bí mật nhà nước và thành phần khác do người có
thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 3 Điều này quyết định;
c) Hội đồng giải mật có trách nhiệm xem xét việc giải mật toàn bộ bí mật
nhà nước hoặc một phần bí mật nhà nước, báo cáo người có thẩm quyền quy
định tại điểm a khoản 3 Điều này quyết định giải mật bằng văn bản;
d) Bí mật nhà nước sau khi giải mật phải đóng dấu, có văn bản hoặc hình
thức phù hợp khác xác định việc giải mật; trường hợp giải mật một phần thì
quyết định giải mật phải thể hiện đầy đủ nội dung thông tin giải mật;
đ) Chậm nhất 15 ngày kể từ ngày có quyết định giải mật, cơ quan, tổ chức
quyết định giải mật phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan;
e) Hồ sơ giải mật phải được lưu trữ bao gồm: Quyết định thành lập hội
đồng giải mật; bí mật nhà nước đề nghị giải mật; biên bản họp hội đồng giải mật;
quyết định giải mật và tài liệu khác có liên quan.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được thông báo về việc giải mật có các
trách nhiệm sau đây:
a) Đóng dấu, có văn bản hoặc hình thức phù hợp khác xác định việc giải
mật đối với bí mật nhà nước nhận được;
b) Đóng dấu, có văn bản hoặc hình thức phù hợp khác xác định việc giải
mật đối với bí mật nhà nước được tạo ra có sử dụng bí mật nhà nước đã được
giải mật do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến và thông báo bằng văn bản đến cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
5. Đối với bí mật nhà nước do Lưu trữ lịch sử lưu trữ, trường hợp không
xác định được cơ quan xác định bí mật nhà nước thì Lưu trữ lịch sử quyết định
việc giải mật theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
6. Chính phủ quy định việc giải mật đối với văn bản điện tử bí mật nhà nước.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.