Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 296/2026/NĐ-CP

Điều 4. Kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp

Căn cứ: Điều 4, 296/2026/NĐ-CP — Nghị định 296/2026/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp

Tóm tắt

Điều này quy định trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp trong việc xác định và kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi với Cơ quan đăng ký kinh doanh. Việc kê khai phải rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu để tìm ra cá nhân sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi theo Điều 17 Nghị định này.
  • ▸Phải rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu cho đến khi xác định được cá nhân sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng.
  • ▸Nếu có thỏa thuận pháp lý theo pháp luật phòng, chống rửa tiền thì xác định theo quy định đó.
  • ▸Thứ tự kê khai: (a) cá nhân đáp ứng tiêu chí quyền sở hữu tại khoản 1 Điều 17; (b) nếu không, cá nhân có quyền thực tế chi phối tại khoản 2 Điều 17; (c) nếu không có, cá nhân tại khoản 3 Điều 17.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thứ tự kê khai: phải ưu tiên tiêu chí quyền sở hữu trước, sau đó mới đến quyền chi phối thực tế.
  • Cho rằng doanh nghiệp chỉ cần kê khai khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước.

Giải thích

Điều 4 Nghị định 296/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 18 về kê khai, thông báo thông tin chủ sở hữu hưởng lợi. Người thành lập doanh nghiệp và doanh nghiệp phải tự xác định chủ sở hữu hưởng lợi theo Điều 17 và thông báo cho Cơ quan đăng ký kinh doanh. Quá trình xác định phải rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu đến cá nhân cuối cùng. Nếu có thỏa thuận pháp lý theo pháp luật phòng, chống rửa tiền thì áp dụng quy định đó. Thứ tự kê khai: trước tiên là cá nhân đáp ứng tiêu chí sở hữu từ 25% trở lên (khoản 1 Điều 17); nếu không có hoặc có căn cứ cho thấy không phải chủ sở hữu hưởng lợi, thì kê khai cá nhân có quyền thực tế chi phối (khoản 2 Điều 17); nếu vẫn không có, kê khai cá nhân là người quản lý có quyền hạn lớn nhất (khoản 3 Điều 17).
Nguyên văn Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 18
“Điều 18. Kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp 1. Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 17 Nghị định này và kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp. Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thông qua việc rà soát từng cấp trong cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi xác định được cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế. Trường hợp trong cơ cấu sở hữu có thỏa thuận pháp lý theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền thì chủ sở hữu hưởng lợi của thỏa thuận pháp lý được xác định theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền. 2. Việc kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi được thực hiện theo thứ tự sau: a) Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền sở hữu quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định này; b) Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 17, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 17 không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của một hoặc nhiều cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền thực tế chi phối quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định này; c) Trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1, 2 Điều 17 thì người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân được quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị định này.”.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.