Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 73/2026/NĐ-CP

Điều 42. Lập kế hoạch đầu tư công trung hạn, lập dự toán, thanh toán, quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm và quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án đầu tư trên địa bàn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp và hỗ trợ địa phương khác

Căn cứ: Điều 42, 73/2026/NĐ-CP — Nghị định 73/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước

Tóm tắt

Điều 42 quy định việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn, lập dự toán, thanh toán, quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm và quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án đầu tư trên địa bàn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp và hỗ trợ địa phương khác, được chia theo hai hình thức: trực tiếp đầu tư và bằng tiền. Mỗi hình thức có quy định riêng về trách nhiệm của địa phương hỗ trợ và cơ quan, tổ chức quản lý dự án, địa phương nhận hỗ trợ.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Theo hình thức trực tiếp đầu tư, địa phương hỗ trợ tổng hợp khoản chi vào kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương mình, làm cơ sở lập dự toán chi đầu tư phát triển hằng năm.
  • ▸Địa phương hỗ trợ tổ chức triển khai thực hiện dự án theo tiến độ đã thống nhất; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư hằng năm, quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành và bàn giao công trình sau khi hoàn thành.
  • ▸Cơ quan, tổ chức quản lý dự án và địa phương nhận hỗ trợ phối hợp lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm; tiếp nhận, quản lý công trình sau khi hoàn thành theo Điều 43 Nghị định này.
  • ▸Theo hình thức bằng tiền, địa phương hỗ trợ lập dự toán chi đầu tư phát triển hằng năm đối với khoản chi cho dự án và hỗ trợ địa phương khác.
  • ▸Địa phương hỗ trợ thực hiện chuyển tiền cho cơ quan cấp trên, địa phương nhận hỗ trợ theo tiến độ thực hiện dự án, công trình, nhiệm vụ; quyết toán nguồn vốn hỗ trợ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
  • ▸Cơ quan, tổ chức quản lý dự án và địa phương nhận hỗ trợ quản lý, sử dụng nguồn vốn được hỗ trợ đúng mục tiêu, đúng chế độ; thực hiện thanh toán, quyết toán vốn đầu tư hằng năm, quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành theo quy định pháp luật.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn trách nhiệm lập dự toán giữa hình thức trực tiếp đầu tư và bằng tiền.
  • Cho rằng địa phương hỗ trợ không phải quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành trong hình thức trực tiếp đầu tư.
  • Bỏ qua việc địa phương nhận hỗ trợ phải quản lý, sử dụng vốn đúng mục tiêu, đúng chế độ.

Giải thích

Điều 42 quy định chi tiết việc lập kế hoạch, dự toán, thanh toán, quyết toán đối với các dự án đầu tư trên địa bàn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp và hỗ trợ địa phương khác. Có hai hình thức: trực tiếp đầu tư và bằng tiền. Đối với hình thức trực tiếp đầu tư, địa phương hỗ trợ tổng hợp khoản chi vào kế hoạch đầu tư công trung hạn của mình, làm cơ sở lập dự toán chi đầu tư phát triển hằng năm; tổ chức triển khai dự án theo tiến độ đã thống nhất; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư hằng năm, quyết toán dự án hoàn thành và bàn giao công trình. Cơ quan, tổ chức quản lý dự án và địa phương nhận hỗ trợ phối hợp lập dự toán ngân sách hằng năm, tiếp nhận và quản lý công trình theo Điều 43. Đối với hình thức bằng tiền, địa phương hỗ trợ lập dự toán chi đầu tư phát triển hằng năm, chuyển tiền cho cơ quan cấp trên, địa phương nhận hỗ trợ theo tiến độ và quyết toán nguồn vốn hỗ trợ theo Luật Ngân sách nhà nước. Cơ quan, tổ chức quản lý dự án và địa phương nhận hỗ trợ quản lý, sử dụng vốn đúng mục tiêu, đúng chế độ, thực hiện thanh toán, quyết toán theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và pháp luật khác có liên quan.
Nguyên văn Điều 42. Lập kế hoạch đầu tư công trung hạn, lập dự toán, thanh toán,
quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm và quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án đầu tư trên địa bàn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp và hỗ trợ địa phương khác 1. Theo hình thức trực tiếp đầu tư: a) Căn cứ quy định của pháp luật về đầu tư công và nội dung trao đổi, thống nhất theo quy định tại khoản 2 Điều 41 của Nghị định này, địa phương hỗ trợ: Tổng hợp khoản chi cho các dự án đầu tư trên địa bàn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp và hỗ trợ địa phương khác vào kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương mình, làm cơ sở để lập dự toán chi đầu tư phát triển của địa phương hằng năm. Tổ chức triển khai thực hiện dự án, công trình theo tiến độ đã trao đổi, thống nhất; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư hằng năm, quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện bàn giao công trình sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng theo quy định tại Điều 41 của Nghị định này; b) Cơ quan, tổ chức được giao trực tiếp quản lý dự án đầu tư thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp, địa phương nhận hỗ trợ có trách nhiệm phối hợp với địa phương hỗ trợ trong việc lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm; tiếp nhận, quản lý công trình sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng theo quy định tại Điều 43 của Nghị định này. 2. Theo hình thức bằng tiền: a) Căn cứ nội dung trao đổi, thống nhất quy định tại khoản 2 Điều 41 của Nghị định này, địa phương hỗ trợ: Lập dự toán chi đầu tư phát triển của địa phương hằng năm đối với khoản chi cho các dự án đầu tư trên địa bàn thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp và hỗ trợ địa phương khác. Thực hiện chuyển tiền cho cơ quan cấp trên, địa phương nhận hỗ trợ theo tiến độ thực hiện dự án, công trình, nhiệm vụ; quyết toán nguồn vốn hỗ trợ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; b) Cơ quan, tổ chức được giao trực tiếp quản lý dự án đầu tư thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp trên trực tiếp, địa phương nhận hỗ trợ có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn vốn được hỗ trợ đúng mục tiêu, đúng chế độ quy định; thực hiện thanh toán, quyết toán vốn đầu tư hằng năm, quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và quy định của pháp luật khác có liên quan.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.