Bài học
30/2020/NĐ-CP
Điều 5. Giá trị pháp lý của văn bản điện tử (Nghị định 30/2020/NĐ-CP)
Căn cứ: Điều 5, 30/2020/NĐ-CP — Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư
Tóm tắt
Văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy. Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật.
Ý chính cần nhớ
- ▸Văn bản điện tử phải được ký số bởi người có thẩm quyền.
- ▸Văn bản điện tử phải được ký số bởi cơ quan, tổ chức.
- ▸Khi đáp ứng điều kiện, văn bản điện tử có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy.
- ▸Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm chỉ cần chữ ký số của người có thẩm quyền mà bỏ qua chữ ký số của cơ quan, tổ chức.
- Cho rằng văn bản điện tử luôn có giá trị như bản gốc dù chưa được ký số đúng quy định.
Giải thích
Điều 5 Nghị định 30/2020/NĐ-CP xác định giá trị pháp lý của văn bản điện tử. Theo đó, văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy. Điều này có nghĩa để đạt giá trị như bản gốc, văn bản điện tử cần có đủ hai loại ký số: của người có thẩm quyền và của cơ quan, tổ chức. Ngoài ra, chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật. Như vậy, không phải mọi văn bản điện tử đều đương nhiên có giá trị pháp lý như bản gốc, mà phải đáp ứng điều kiện về ký số theo Điều 5.
Nguyên văn Điều 5. Giá trị pháp lý của văn bản điện tử
1. Văn bản điện tử được ký số bởi ng
ười có thẩm quyền và ký số của cơ quan,
tổ chức theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy.
2. Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của
pháp luật.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.