Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 73/2026/NĐ-CP

Điều 5. Quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ

Căn cứ: Điều 5, 73/2026/NĐ-CP — Nghị định 73/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước

Tóm tắt

Điều 5 quy định khái niệm, điều kiện, phạm vi và các hình thức quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Điều này cũng nêu nguyên tắc áp dụng, trách nhiệm của bộ quản lý ngành và trách nhiệm của đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Khái niệm: sử dụng thông tin về đầu ra, kết quả thực hiện, hiệu quả hoạt động để lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước.
  • ▸Điều kiện áp dụng: xác định được kết quả cần đạt; có định mức hoặc đơn giá tương đương; có văn bản thỏa thuận giữa cơ quan giao và cơ quan nhận nhiệm vụ.
  • ▸Phạm vi áp dụng: chính sách, chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ có kết quả xác định được cụ thể.
  • ▸Bốn hình thức quản lý: theo chương trình; dựa trên số lượng đầu ra dự kiến; dựa trên kết quả thực hiện thực tế; dựa trên mục tiêu hiệu quả hoạt động.
  • ▸Nguyên tắc: tăng thẩm quyền gắn với tăng trách nhiệm cá nhân; đơn giản hóa thanh toán, quyết toán; kết quả phải tối thiểu bằng hoặc tốt hơn quản lý theo đầu vào.
  • ▸Trách nhiệm của bộ quản lý ngành: xác định phạm vi, đối tượng; ban hành văn bản hướng dẫn; xác định mục tiêu, kết quả đầu ra trong chiến lược, kế hoạch.
  • ▸Đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm lập dự toán, tổ chức thực hiện và quyết toán theo quy định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa hình thức quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ với quản lý theo yếu tố đầu vào.
  • Cho rằng quản lý theo kết quả chỉ áp dụng cho mọi nhiệm vụ mà không cần điều kiện kèm theo.
  • Nhầm trách nhiệm của bộ quản lý ngành với trách nhiệm của đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách.

Giải thích

Điều 5 Nghị định 73/2026/NĐ-CP quy định việc quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Theo đó, việc sử dụng thông tin về đầu ra, kết quả thực hiện và hiệu quả hoạt động của nhiệm vụ, khối lượng, chất lượng dịch vụ, sản phẩm gắn với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước hằng năm làm cơ sở để lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước. Điều kiện áp dụng gồm: xác định được kết quả cần đạt; có đầy đủ tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật - kinh tế, định mức chi tiêu hoặc đơn giá; có văn bản thỏa thuận giữa cơ quan giao nhiệm vụ và cơ quan nhận nhiệm vụ. Phạm vi áp dụng là các chính sách, chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ mà kết quả thực hiện xác định được cụ thể về khối lượng, số lượng, chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh phí được xác định trên cơ sở định mức hoặc đơn giá. Có bốn hình thức quản lý: theo chương trình; dựa trên số lượng đầu ra dự kiến; dựa trên kết quả thực hiện thực tế; dựa trên mục tiêu hiệu quả hoạt động. Nguyên tắc áp dụng là tăng thẩm quyền gắn với tăng trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu đơn vị; đơn giản hóa quy trình thanh toán, quyết toán; kết quả thực hiện nhiệm vụ phải bảo đảm tối thiểu bằng hoặc tốt hơn so với phương thức quản lý ngân sách theo yếu tố đầu vào. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm xác định phạm vi, đối tượng áp dụng; ban hành văn bản hướng dẫn; xác định mục tiêu, kết quả đầu ra trong chiến lược, kế hoạch. Đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán, tổ chức thực hiện và quyết toán theo quy định.
Nguyên văn Điều 5. Quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ
1. Quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ là việc sử dụng thông tin về đầu ra, kết quả thực hiện và hiệu quả hoạt động của nhiệm vụ, khối lượng, chất lượng dịch vụ, sản phẩm gắn với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước hằng năm, đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này làm cơ sở để lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. 2. Điều kiện áp dụng quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ: a) Xác định được kết quả cần đạt được của nhiệm vụ, dịch vụ, sản phẩm với các chỉ tiêu về khối lượng, số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và thời gian hoàn thành; b) Có đầy đủ tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật - kinh tế, định mức chi tiêu hoặc đơn giá của nhiệm vụ, dịch vụ, sản phẩm tương đương trong điều kiện tương tự để lập, phân bổ, chấp hành, quyết toán ngân sách nhà nước và giám sát, đánh giá kết quả thực hiện; c) Có văn bản thỏa thuận giữa cơ quan giao nhiệm vụ và cơ quan nhận nhiệm vụ về yêu cầu, kết quả đầu ra, trách nhiệm thực hiện và phương thức thanh toán, quyết toán ngân sách nhà nước. 3. Phạm vi áp dụng là các chính sách, chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ mà kết quả thực hiện là các mục tiêu, dịch vụ, sản phẩm xác định được cụ thể về khối lượng, số lượng, chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh phí ngân sách được xác định trên cơ sở định mức hoặc đơn giá. 4. Hình thức quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ bao gồm: a) Quản lý ngân sách theo chương trình; b) Quản lý ngân sách dựa trên số lượng đầu ra dự kiến; c) Quản lý ngân sách dựa trên kết quả thực hiện thực tế; d) Quản lý ngân sách dựa trên mục tiêu hiệu quả hoạt động. 5. Nguyên tắc áp dụng: a) Tăng thẩm quyền gắn với tăng trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu đơn vị, chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về kết quả thực hiện nhiệm vụ và sử dụng ngân sách; b) Đơn giản hóa quy trình thanh toán, quyết toán ngân sách nhà nước; c) Kết quả thực hiện nhiệm vụ về khối lượng, số lượng, chất lượng, thời gian và chi phí phải bảo đảm tối thiểu bằng hoặc tốt hơn so với phương thức quản lý ngân sách theo yếu tố đầu vào. 6. Trách nhiệm của bộ quản lý ngành, lĩnh vực: a) Căn cứ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, xác định phạm vi, đối tượng áp dụng quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý; b) Ban hành văn bản hướng dẫn việc xác định kết quả đầu ra, tiêu chuẩn và định mức kỹ thuật - kinh tế, quy trình thực hiện nhiệm vụ, cơ chế giám sát và đánh giá kết quả thuộc ngành, lĩnh vực quản lý; yêu cầu thỏa thuận giữa cơ quan giao và cơ quan nhận nhiệm vụ; c) Trong quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm và hằng năm, xác định rõ mục tiêu, kết quả đầu ra cần đạt được, làm cơ sở giao nhiệm vụ và bố trí ngân sách theo cơ chế quản lý theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. 7. Căn cứ quyết định của cấp có thẩm quyền, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm lập dự toán, tổ chức thực hiện và quyết toán ngân sách nhà nước về quản lý ngân sách nhà nước theo kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và quy định của Nghị định này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.