Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 94/2025/QH15

Điều 69. Bồi thường thiệt hại hạt nhân

Căn cứ: Điều 69, 94/2025/QH15 — Luật Năng lượng nguyên tử số 94/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 69 quy định khái niệm thiệt hại hạt nhân, trách nhiệm bồi thường của chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân, trách nhiệm trong vận chuyển vật liệu hạt nhân, nguyên tắc bồi thường, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết. Đây là điều quan trọng về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thiệt hại hạt nhân gồm tổn thất về con người, tài sản, môi trường và thiệt hại kinh tế do chi phí khắc phục sự cố hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam.
  • ▸Chủ đầu tư (giai đoạn vận hành thử) hoặc tổ chức vận hành chịu trách nhiệm về thiệt hại do sự cố tại cơ sở hạt nhân của mình, ở bất kỳ nơi nào.
  • ▸Trách nhiệm đối với vật liệu hạt nhân bị trộm cắp, mất, thải bỏ hoặc bỏ rơi thuộc về tổ chức vận hành cuối cùng được phép sở hữu vật liệu đó.
  • ▸Trong vận chuyển, tổ chức gửi chịu trách nhiệm cho đến khi tổ chức nhận tiếp nhận, trừ khi có thỏa thuận văn bản chuyển trách nhiệm sang giai đoạn khác hoặc sang tổ chức vận tải.
  • ▸Tổ chức vận hành phải bồi thường cả khi không có lỗi, trừ sự cố do chiến tranh, khủng bố; được miễn trừ toàn bộ hoặc một phần nếu thiệt hại do người bị thiệt hại cố ý hoặc bất cẩn gây ra.
  • ▸Thời hiệu khởi kiện: 30 năm đối với thiệt hại tính mạng, sức khỏe; 10 năm đối với thiệt hại khác, kể từ thời điểm xảy ra sự cố.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa chủ đầu tư và tổ chức vận hành: chỉ chủ đầu tư trong giai đoạn vận hành thử mới chịu trách nhiệm, còn tổ chức vận hành chịu trách nhiệm trong giai đoạn vận hành chính thức.
  • Cho rằng tổ chức vận hành không phải bồi thường khi không có lỗi; thực tế phải bồi thường trừ trường hợp chiến tranh, khủng bố.
  • Nhầm thời hiệu khởi kiện: 30 năm cho thiệt hại tính mạng, sức khỏe; 10 năm cho thiệt hại khác.

Giải thích

Điều 69 Luật Năng lượng nguyên tử số 94/2025/QH15 quy định về bồi thường thiệt hại hạt nhân. Thiệt hại hạt nhân bao gồm tổn thất về con người, tài sản, môi trường và thiệt hại kinh tế do chi phí khắc phục sự cố xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Chủ đầu tư trong giai đoạn vận hành thử hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân chịu trách nhiệm về thiệt hại do sự cố tại cơ sở của mình, ở bất kỳ nơi nào. Đối với vật liệu hạt nhân bị trộm cắp, mất, thải bỏ hoặc bỏ rơi, trách nhiệm thuộc về tổ chức vận hành cuối cùng được phép sở hữu. Trong vận chuyển, tổ chức gửi chịu trách nhiệm cho đến khi tổ chức nhận tiếp nhận, trừ khi có thỏa thuận văn bản. Tổ chức vận hành phải bồi thường cả khi không có lỗi, trừ chiến tranh, khủng bố; được miễn trừ nếu thiệt hại do người bị thiệt hại cố ý hoặc bất cẩn. Thời hiệu khởi kiện là 30 năm đối với thiệt hại tính mạng, sức khỏe và 10 năm đối với thiệt hại khác.
Nguyên văn Điều 69. Bồi thường thiệt hại hạt nhân
1. Thiệt hại hạt nhân là tổn thất đối với con người, tài sản, môi trường, bao gồm cả thiệt hại kinh tế do chi phí phát sinh cho việc khắc phục hậu quả do sự cố hạt nhân xảy ra trên phạm vi lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân chịu trách nhiệm sau đây: 82 CÔNG BÁO/Số 975 + 976/Ngày 25-7-2025 a) Chỉ có chủ đầu tư trong giai đoạn vận hành thử hoặc chỉ có tổ chức vận hành phải chịu trách nhiệm về thiệt hại hạt nhân xảy ra ở bất kỳ nơi nào, khi có bằng chứng cho thấy thiệt hại đó là do sự cố hạt nhân tại cơ sở hạt nhân của chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành đó gây ra; b) Trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân do vật liệu hạt nhân bị trộm cắp, bị mất, bị thải bỏ hoặc bị bỏ rơi thuộc về tổ chức vận hành cuối cùng được phép sở hữu vật liệu đó; c) Trách nhiệm đối với thiệt hại hạt nhân được áp dụng ở bất kỳ nơi nào bị thiệt hại. 3. Trong quá trình vận chuyển vật liệu hạt nhân, tổ chức gửi vật liệu hạt nhân phải chịu trách nhiệm về thiệt hại hạt nhân cho đến khi tổ chức nhận đã tiếp nhận vật liệu hạt nhân, trừ khi hai bên có thỏa thuận bằng văn bản để chuyển trách nhiệm sang giai đoạn khác của quá trình vận chuyển hoặc chuyển trách nhiệm sang tổ chức vận tải theo yêu cầu của tổ chức này. Trong trường hợp chuyển trách nhiệm sang tổ chức vận tải, tổ chức vận tải có trách nhiệm như tổ chức vận hành quy định tại khoản 2 Điều này. 4. Tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải bồi thường thiệt hại hạt nhân gây ra cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sự cố xảy ra do chiến tranh, khủng bố. Tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân được miễn trừ toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ bồi thường nếu chứng minh được rằng thiệt hại là do người bị thiệt hại cố ý hoặc bất cẩn gây ra thiệt hại. 5. Mức bồi thường thiệt hại mà chủ đầu tư hoặc tổ chức vận hành cơ sở hạt nhân phải chịu trách nhiệm, tổng mức bồi thường thiệt hại cho một sự cố hạt nhân thực hiện theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 6. Việc bồi thường thiệt hại hạt nhân được thực hiện theo nguyên tắc sau đây: a) Tính chất, hình thức, phạm vi và việc phân bổ khoản bồi thường được xác định theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử; b) Trường hợp yêu cầu bồi thường vượt quá hoặc có khả năng vượt quá tổng mức bồi thường thiệt hại cho một sự cố hạt nhân, ưu tiên bồi thường đối với thiệt hại tính mạng hoặc thương tích cá nhân và sau khi tất cả các yêu cầu bồi thường này được đáp ứng thì các yêu cầu bồi thường khác sẽ được giải quyết. 7. Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại hạt nhân là 30 năm đối với thiệt hại tính mạng, sức khỏe, 10 năm đối với các thiệt hại khác, kể từ thời điểm xảy ra sự cố hạt nhân. 8. Thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại hạt nhân thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, quy định khác của pháp luật có liên quan. 9. Chính phủ quy định chi tiết khoản 5 và khoản 6 Điều này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.