Bài học
40/2019/QH14
Điều 19. Dịch vụ kiến trúc
Căn cứ: Điều 19, 40/2019/QH14 — Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14
Tóm tắt
Dịch vụ kiến trúc là loại hình kinh doanh dịch vụ tổ chức thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng. Các dịch vụ này bao gồm 7 loại được liệt kê cụ thể trong luật.
Ý chính cần nhớ
- ▸Dịch vụ kiến trúc là loại hình kinh doanh dịch vụ tổ chức thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng.
- ▸Bao gồm: thiết kế kiến trúc công trình;
- ▸Thiết kế kiến trúc trong đồ án quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, thiết kế đô thị;
- ▸Thiết kế kiến trúc cảnh quan;
- ▸Thiết kế nội thất;
- ▸Chỉ dẫn đặc điểm kỹ thuật kiến trúc công trình;
- ▸Đánh giá kiến trúc công trình;
- ▸Thẩm tra thiết kế kiến trúc.
Lưu ý dễ nhầm
- Dễ nhầm dịch vụ kiến trúc chỉ gồm thiết kế, mà quên thẩm tra thiết kế.
- Có thể nhầm lẫn giữa thiết kế kiến trúc cảnh quan và thiết kế nội thất.
Giải thích
Điều 19 Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 quy định về dịch vụ kiến trúc. Theo khoản 1, dịch vụ kiến trúc là loại hình kinh doanh dịch vụ tổ chức thiết kế và thẩm tra thiết kế xây dựng. Khoản 2 liệt kê cụ thể các dịch vụ kiến trúc, bao gồm: thiết kế kiến trúc công trình; thiết kế kiến trúc trong đồ án quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, thiết kế đô thị; thiết kế kiến trúc cảnh quan; thiết kế nội thất; chỉ dẫn đặc điểm kỹ thuật kiến trúc công trình; đánh giá kiến trúc công trình; và thẩm tra thiết kế kiến trúc. Cần lưu ý rằng 'thẩm tra thiết kế' là một phần quan trọng của dịch vụ kiến trúc, không chỉ đơn thuần là thiết kế.
Nguyên văn Điều 19. Dịch vụ kiến trúc
1. Dịch vụ kiến trúc là loại hình kinh doanh dịch vụ tổ chức thiế
t kế, thẩm tra
thiết kế xây dựng.
2. Dịch vụ kiến trúc bao gồm:
a) Thiết kế kiến trúc công trình;
b) Thiết kế kiến trúc trong đồ án quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, thiết
kế đô thị;
c) Thiết kế kiến trúc cảnh quan;
d) Thiết kế nội thất;
đ) Chỉ dẫn đặc điểm kỹ thuật kiến trúc công trình;
e) Đánh giá kiến trúc công trình;
g) Thẩm tra thiết kế
kiến trúc.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.