Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 114/2025/UBTVQH15

Điều 24. Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết về chất vấn

Căn cứ: Điều 24, 114/2025/UBTVQH15 — Nghị quyết 114/2025/UBTVQH15 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

Tóm tắt

Sau phiên chất vấn tại kỳ họp, HĐND ban hành nghị quyết về chất vấn với 4 nội dung chính: đánh giá kết quả, giải pháp và thời hạn khắc phục, trách nhiệm thi hành, trách nhiệm báo cáo. Ban hoặc cơ quan giúp việc được giao chủ trì xây dựng dự thảo, lấy ý kiến và trình tự theo quy định.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nghị quyết về chất vấn được ban hành sau phiên chất vấn tại kỳ họp.
  • ▸Nội dung chính: đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm; hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  • ▸Nội dung chính: giải pháp, thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập.
  • ▸Nội dung chính: trách nhiệm thi hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
  • ▸Nội dung chính: trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn.
  • ▸Ban hoặc cơ quan giúp việc được giao chủ trì xây dựng dự thảo, lấy ý kiến Ban khác và người bị chất vấn, trình Thường trực HĐND cho ý kiến trước khi xin ý kiến đại biểu.
  • ▸Cơ quan giúp việc giúp Thường trực tổng hợp ý kiến đại biểu; Ban/cơ quan giúp việc được giao chủ trì giúp Thường trực tiếp thu, giải trình, hoàn thiện dự thảo trình HĐND thông qua.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa cơ quan chủ trì xây dựng dự thảo (Ban hoặc cơ quan giúp việc được giao) với cơ quan tổng hợp ý kiến đại biểu (cơ quan giúp việc của HĐND).
  • Tưởng rằng nghị quyết về chất vấn chỉ có 3 nội dung, thực tế có 4 nội dung theo các điểm a, b, c, d khoản 1.

Giải thích

Điều 24 quy định việc HĐND ban hành nghị quyết về chất vấn sau phiên chất vấn tại kỳ họp. Nghị quyết phải có 4 nội dung: (1) đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn, hạn chế, bất cập và nguyên nhân; (2) giải pháp, thời hạn khắc phục; (3) trách nhiệm thi hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân; (4) trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết. Về quy trình, Ban của HĐND hoặc cơ quan giúp việc được giao chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan xây dựng dự thảo, lấy ý kiến Ban khác của HĐND và người bị chất vấn, trình Thường trực HĐND cho ý kiến trước khi gửi xin ý kiến đại biểu HĐND. Cơ quan giúp việc của HĐND giúp Thường trực tổng hợp ý kiến đại biểu; Ban hoặc cơ quan giúp việc được giao chủ trì giúp Thường trực tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo để trình HĐND xem xét, thông qua.
Nguyên văn Điều 24. Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết về chất vấn
1. Sau phiên chất vấn tại kỳ họp, Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết về chất vấn. Nghị quyết gồm những nội dung chính sau đây: a) Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn, hạn chế, bất cập và nguyên nhân liên quan đến vấn đề chất vấn; b) Giải pháp, thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập; c) Trách nhiệm thi hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân; d) Trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn. 2. Ban của Hội đồng nhân dân hoặc cơ quan giúp việc của Hội đồng nhân dân được giao chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan xây dựng dự thảo nghị quyết về chất vấn, lấy ý kiến Ban khác của Hội đồng nhân dân, người bị chất vấn, trình Thường trực Hội đồng nhân dân cho ý kiến trước khi gửi xin ý kiến đại biểu Hội đồng nhân dân. 3. Cơ quan giúp việc của Hội đồng nhân dân giúp Thường trực Hội đồng nhân dân tổng hợp ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân; Ban của Hội đồng nhân dân hoặc cơ quan giúp việc của Hội đồng nhân dân được giao chủ trì, phối hợp với Ban khác của Hội đồng nhân dân giúp Thường trực Hội đồng nhân dân tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Hội đồng nhân dân, hoàn thiện dự thảo nghị quyết về chất vấn trình Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.