Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 114/2025/UBTVQH15

Điều 43. Tổ chức Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân để tiến hành giám sát chuyên đề

Căn cứ: Điều 43, 114/2025/UBTVQH15 — Nghị quyết 114/2025/UBTVQH15 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

Tóm tắt

Điều 43 quy định việc thành lập Đoàn giám sát chuyên đề của Thường trực HĐND, nội dung nghị quyết thành lập, thành phần Đoàn, nhiệm vụ quyền hạn của Thường trực HĐND và Đoàn giám sát, cùng vai trò của Ban HĐND trong hỗ trợ.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thường trực HĐND quyết định thành lập Đoàn giám sát chuyên đề theo chương trình giám sát hoặc khi được HĐND giao.
  • ▸Ban HĐND phụ trách lĩnh vực liên quan chủ trì xây dựng dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát trình Thường trực HĐND thông qua.
  • ▸Nghị quyết thành lập phải xác định rõ mục đích, phạm vi, đối tượng, nội dung, kế hoạch, thành phần Đoàn và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.
  • ▸Trưởng Đoàn là Phó Chủ tịch HĐND hoặc Ủy viên Thường trực HĐND; thành viên gồm đại diện Ban HĐND liên quan và một số đại biểu HĐND.
  • ▸Có thể mời đại diện Ủy ban MTTQ, chuyên gia, cơ quan/tổ chức/cá nhân liên quan tham gia; đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội có thể mời tham gia Đoàn giám sát của Thường trực HĐND cấp tỉnh.
  • ▸Thời hạn thông báo kế hoạch giám sát: 15 ngày kể từ ngày ban hành nghị quyết thành lập Đoàn; thời gian để cơ quan chịu giám sát xây dựng báo cáo ít nhất 20 ngày kể từ ngày thông báo kế hoạch.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn 15 ngày (thông báo kế hoạch) với 20 ngày (tối thiểu để cơ quan chịu giám sát gửi báo cáo).
  • Cho rằng mọi thành viên Đoàn giám sát đều bắt buộc, trong khi đại diện Ủy ban MTTQ, chuyên gia, cá nhân liên quan có thể được mời.

Giải thích

Điều 43 hướng dẫn cách thành lập và tổ chức Đoàn giám sát chuyên đề của Thường trực Hội đồng nhân dân. Căn cứ chương trình giám sát hoặc khi được HĐND giao, Thường trực HĐND quyết định thành lập Đoàn. Ban HĐND phụ trách lĩnh vực liên quan chủ trì soạn thảo nghị quyết thành lập để Thường trực thông qua. Nghị quyết phải ghi rõ mục đích, phạm vi, đối tượng, nội dung, kế hoạch, thành phần Đoàn và đối tượng chịu giám sát. Trưởng Đoàn là Phó Chủ tịch HĐND hoặc Ủy viên Thường trực; thành viên gồm đại diện Ban liên quan và một số đại biểu HĐND; có thể mời đại diện MTTQ, chuyên gia, cá nhân liên quan; riêng cấp tỉnh có thể mời đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội. Thường trực HĐND có quyền điều chỉnh thành phần Đoàn, chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tổ chức giải trình. Đoàn giám sát có trách nhiệm thông báo kế hoạch trong 15 ngày kể từ ngày ban hành nghị quyết; thời gian để đối tượng chịu giám sát gửi báo cáo ít nhất 20 ngày kể từ ngày thông báo. Ban HĐND liên quan hỗ trợ Thường trực và Đoàn thực hiện nhiệm vụ, soạn dự thảo nghị quyết hoặc kết luận.
Nguyên văn Điều 43. Tổ chức Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân để tiến hành giám sát chuyên đề
1. Căn cứ chương trình giám sát của mình hoặc khi được Hội đồng nhân dân giao, Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định thành lập Đoàn giám sát để tiến hành giám sát chuyên đề. Ban của Hội đồng nhân dân phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan xây dựng dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát, trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua. 2. Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ mục đích, phạm vi, đối tượng, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Đoàn giám sát do một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoặc Ủy viên của Thường trực Hội đồng nhân dân làm Trưởng Đoàn, các thành viên khác gồm đại diện của Ban của Hội đồng nhân dân có liên quan và một số đại biểu Hội đồng nhân dân. Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các chuyên gia có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm về chuyên đề giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có thể được mời tham gia Đoàn giám sát. Đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội có thể được mời tham gia Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. 3. Trong quá trình giám sát, Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Điều chỉnh thành phần Đoàn giám sát trong trường hợp cần thiết theo đề nghị của Trưởng Đoàn giám sát; b) Chỉ đạo Đoàn giám sát xây dựng kế hoạch giám sát (trong đó xác định cụ thể nội dung tập trung giám sát), các đề cương báo cáo, tổ chức triển khai thực hiện và tổng hợp, xây dựng báo cáo kết quả giám sát; c) Khi xét thấy cần thiết, tổ chức hoạt động giải trình; yêu cầu Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân phối hợp giám sát về các nội dung liên quan đến chuyên đề giám sát. 4. Đoàn giám sát có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Xây dựng và thông báo kế hoạch giám sát, đề cương báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát, đề cương báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và đề cương báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Thường trực Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết thành lập Đoàn giám sát. Thời gian để cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát xây dựng báo cáo và gửi đến Đoàn giám sát do Đoàn giám sát quyết định nhưng không ít hơn 20 ngày kể từ ngày thông báo kế hoạch; b) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 4 Điều 40 của Nghị quyết này; c) Báo cáo kết quả giám sát để Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định. 5. Ban của Hội đồng nhân dân phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát giúp Thường trực Hội đồng nhân dân, Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này và xây dựng dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Nghị quyết này hoặc dự thảo kết luận của Thường trực Hội đồng nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Nghị quyết này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.