Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 47/2024/QH15

Điều 46. Các loại điều chỉnh quy hoạch đô thị và nông thôn và nguyên tắc điều chỉnh

Căn cứ: Điều 46, 47/2024/QH15 — Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 46 phân loại điều chỉnh quy hoạch đô thị và nông thôn thành hai loại: tổng thể và cục bộ. Điều chỉnh tổng thể làm thay đổi vai trò, tính chất, chức năng, quy mô, ranh giới, cơ cấu, giải pháp quy hoạch của toàn bộ khu vực lập quy hoạch; điều chỉnh cục bộ không làm thay đổi các yếu tố chính và không gây quá tải hạ tầng. Điều luật cũng quy định căn cứ, điều kiện và nguyên tắc bảo đảm tính kế thừa, không gây vướng mắc cho dự án đang triển khai.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Điều chỉnh tổng thể: dựa trên rà soát quy hoạch và có một trong các điều kiện tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Điều 45; làm thay đổi vai trò, tính chất, chức năng, quy mô, ranh giới, cơ cấu, giải pháp quy hoạch của toàn bộ khu vực lập quy hoạch.
  • ▸Điều chỉnh tổng thể phải đáp ứng yêu cầu thực tế, phù hợp xu thế phát triển, nâng cao chất lượng môi trường sống, hạ tầng, kiến trúc cảnh quan; bảo đảm kế thừa, không gây vướng mắc cho dự án đang triển khai.
  • ▸Điều chỉnh cục bộ: dựa trên rà soát quy hoạch và có một trong các điều kiện tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Điều 45; nội dung điều chỉnh không làm thay đổi tính chất, chức năng, phạm vi ranh giới, các giải pháp quy hoạch chính; đánh giá tác động không gây quá tải hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tuân thủ quy chuẩn.
  • ▸Khi có điều kiện tại khoản 8 Điều 45, quy hoạch chi tiết được điều chỉnh cục bộ mà không phải thực hiện rà soát quy hoạch.
  • ▸Điều chỉnh cục bộ không thực hiện trình tự lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch.
  • ▸Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch được lập hồ sơ điều chỉnh cục bộ hoặc lựa chọn tổ chức tư vấn đáp ứng yêu cầu để lập hồ sơ điều chỉnh cục bộ.

Lưu ý dễ nhầm

  • Dễ nhầm lẫn điều kiện điều chỉnh tổng thể và cục bộ: cả hai đều dựa trên các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Điều 45, nhưng tổng thể làm thay đổi các yếu tố chính, còn cục bộ thì không.
  • Trường hợp khoản 8 Điều 45 chỉ áp dụng cho quy hoạch chi tiết và không phải thực hiện rà soát quy hoạch.
  • Điều chỉnh cục bộ không thực hiện trình tự lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch.

Giải thích

Điều 46 Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 quy định hai loại điều chỉnh quy hoạch. Điều chỉnh tổng thể được thực hiện khi có kết quả rà soát và một trong các điều kiện tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Điều 45, đồng thời có sự thay đổi về vai trò, tính chất, chức năng, quy mô của đô thị, huyện, xã, khu chức năng; thay đổi ranh giới khu vực lập quy hoạch phân khu, chi tiết; hoặc thay đổi cơ cấu, tính chất, chức năng, quy mô, giải pháp quy hoạch, yêu cầu tổ chức không gian của toàn bộ khu vực lập quy hoạch. Điều chỉnh tổng thể phải đáp ứng yêu cầu thực tế, phù hợp xu thế phát triển, nâng cao chất lượng sống, hạ tầng, cảnh quan; bảo đảm kế thừa, không gây vướng mắc cho dự án đang triển khai. Điều chỉnh cục bộ cũng dựa trên rà soát và điều kiện tại các khoản 1-7 Điều 45 nhưng nội dung điều chỉnh không làm thay đổi tính chất, chức năng, phạm vi ranh giới, các giải pháp quy hoạch chính; đánh giá tác động bảo đảm không quá tải hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tuân thủ quy chuẩn. Khi có điều kiện tại khoản 8 Điều 45, quy hoạch chi tiết được điều chỉnh cục bộ mà không phải rà soát. Điều chỉnh cục bộ không thực hiện trình tự lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch; cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch được lập hồ sơ hoặc lựa chọn tư vấn đáp ứng yêu cầu.
Nguyên văn Điều 46. Các loại điều chỉnh quy hoạch đô thị và nông thôn và nguyên tắc
điều chỉnh 1. Điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị và nông thôn được quy định như sau: a) Điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị và nông thôn được tiến hành trên cơ sở kết quả rà soát quy hoạch đô thị và nông thôn và khi có một trong các điều kiện điều chỉnh quy hoạch quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 45 của Luật này mà có sự thay đổi về vai trò, tính chất, chức năng, quy mô của đô thị, huyện, xã, khu chức năng; có sự thay đổi về ranh giới của khu vực lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết; có sự thay đổi về cơ cấu, tính chất, chức năng, quy mô và các giải pháp quy hoạch, yêu cầu tổ chức không gian của toàn bộ khu vực lập quy hoạch; b) Điều chỉnh tổng thể quy hoạch đô thị và nông thôn phải bảo đảm đáp ứng được yêu cầu thực tế, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển của đô thị, huyện, xã, khu chức năng trong tương lai, nâng cao chất lượng môi trường sống, cơ sở hạ tầng và kiến trúc cảnh quan đô thị, nông thôn; bảo đảm tính kế thừa, không gây vướng mắc đối với các dự án đầu tư xây dựng đang triển khai. 2. Điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn được quy định như sau: a) Điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn được tiến hành trên cơ sở kết quả rà soát quy hoạch đô thị và nông thôn và khi có một trong các điều kiện điều chỉnh quy hoạch quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 45 của Luật này mà nội dung dự kiến điều chỉnh không làm thay đổi tính chất, chức năng, phạm vi ranh giới, các giải pháp quy hoạch chính của khu vực đã được lập, phê duyệt quy hoạch và đánh giá tác động của việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch bảo đảm không làm quá tải hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tuân thủ quy chuẩn về quy hoạch đô thị và nông thôn. Khi xuất hiện điều kiện quy định tại khoản 8 Điều 45 của Luật này, quy hoạch chi tiết được điều chỉnh cục bộ mà không phải thực hiện rà soát quy hoạch; b) Việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch đô thị và nông thôn không thực hiện trình tự lập, thẩm định và phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch đô thị và nông thôn được lập hồ sơ điều chỉnh cục bộ quy hoạch hoặc lựa chọn tổ chức tư vấn đáp ứng yêu cầu theo quy định của Luật này để tổ chức lập hồ sơ điều chỉnh cục bộ quy hoạch.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.