Điều 47. Ban của Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát
Căn cứ: Điều 47, 114/2025/UBTVQH15 — Nghị quyết 114/2025/UBTVQH15 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
Tóm tắt
Quy định hồ sơ trình Ban của Hội đồng nhân dân để xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát, trình tự xem xét thảo luận và các trường hợp xử lý sau khi xem xét. Nêu rõ nội dung kết luận giám sát chuyên đề của Ban.
Ý chính cần nhớ
- ▸Hồ sơ trình Ban gồm: báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát; dự thảo nghị quyết của HĐND, dự thảo kết luận của Thường trực HĐND hoặc dự thảo kết luận của Ban; báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và tài liệu khác (nếu có).
- ▸Trình tự xem xét: (1) Đại diện Đoàn giám sát trình bày báo cáo; (2) Ban thảo luận, Đoàn giám sát có thể bổ sung; (3) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phát biểu (nếu có); (4) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo, giải trình; (5) Hoàn thiện báo cáo, dự thảo để trình HĐND, Thường trực HĐND nếu chuyên đề do HĐND, Thường trực HĐND giao.
- ▸Nếu chuyên đề do Ban quyết định: Ban xem xét, ban hành kết luận giám sát chuyên đề.
- ▸Kết luận giám sát chuyên đề của Ban gồm: nội dung quy định tại các điểm a, b, c khoản 3 Điều 41 và trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kết luận.
- ▸Trình tự, thủ tục HĐND xem xét báo cáo kết quả giám sát thực hiện theo khoản 2 và khoản 3 Điều 42; của Thường trực HĐND theo khoản 2 và khoản 3 Điều 45.
Lưu ý dễ nhầm
- Dễ nhầm lẫn giữa hai trường hợp: chuyên đề do HĐND/Thường trực HĐND giao thì Ban hoàn thiện báo cáo, dự thảo để trình; chuyên đề do Ban quyết định thì Ban ban hành kết luận giám sát.
- Kết luận giám sát chuyên đề của Ban có nội dung tại các điểm a, b, c khoản 3 Điều 41, không phải toàn bộ khoản 3 Điều 41.
Giải thích
Nguyên văn Điều 47. Ban của Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.