Bài học
89/2025/QH15
Điều 53. Tạm cấp ngân sách
Căn cứ: Điều 53, 89/2025/QH15 — Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15
Tóm tắt
Quy định các trường hợp tạm cấp ngân sách, trách nhiệm thực hiện tạm cấp cho các nhiệm vụ chi không thể trì hoãn, mức tối đa và thẩm quyền đối với vốn ODA/vay ưu đãi.
Ý chính cần nhớ
- ▸Tạm cấp khi: đầu năm chưa có quyết định dự toán của Quốc hội/HĐND hoặc chưa giao dự toán; trong năm phải trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh/xác định lại dự toán.
- ▸Cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm cấp cho 5 nhóm nhiệm vụ chi không thể trì hoãn (a–đ).
- ▸Nhóm được tạm cấp gồm: lương và khoản có tính chất tiền lương; nghiệp vụ phí, công vụ phí; bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới; một số khoản chi cần thiết khác (trừ mua sắm trang thiết bị, sửa chữa); dự án chuyển tiếp thuộc chương trình MTQG, dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư chuyển tiếp quan trọng, cấp bách khác để khắc phục thiên tai, thảm họa, dịch bệnh.
- ▸Mức tạm cấp hằng tháng tối đa cho các điểm a, b, c, d không quá mức chi bình quân 01 tháng của năm trước.
- ▸Vốn vay ODA, vay ưu đãi chưa dự toán hoặc vượt dự toán: Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi thực hiện và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Lưu ý dễ nhầm
- Lầm tưởng mọi khoản chi đều được tạm cấp; thực tế loại trừ mua sắm trang thiết bị, sửa chữa.
- Nhầm mức tạm cấp tối đa áp dụng cho cả dự án chuyển tiếp; Điều 53 chỉ giới hạn cho các điểm a, b, c, d khoản 2.
- Cho rằng Chính phủ tự quyết vốn ODA/vay ưu đãi chưa dự toán; phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước.
Giải thích
Điều 53 Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 quy định việc tạm cấp ngân sách khi chưa có dự toán được quyết định hoặc giao, hoặc khi phải trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh, xác định lại dự toán. Cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước tạm cấp cho các nhiệm vụ chi không thể trì hoãn: lương và khoản có tính chất tiền lương; nghiệp vụ phí, công vụ phí; bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới; một số khoản chi cần thiết khác, trừ mua sắm trang thiết bị, sửa chữa; và dự án chuyển tiếp thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư chuyển tiếp quan trọng, cấp bách khác để khắc phục thiên tai, thảm họa, dịch bệnh. Mức tạm cấp hằng tháng tối đa cho bốn nhóm đầu không quá mức chi bình quân một tháng của năm trước. Riêng vốn vay ODA và vay ưu đãi chưa dự toán hoặc vượt dự toán, Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi thực hiện và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Nguyên văn Điều 53. Tạm cấp ngân sách
1. Việc tạm cấp ngân sách được thực hiện trong các trường hợp sau:
a) Vào đầu năm ngân sách, khi Quốc hội, Hội đồng nhân dân chưa quyết định
dự toán ngân sách; hoặc Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân chưa giao dự toán
ngân sách;
b) Trong năm ngân sách, phải trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh
hoặc xác định lại dự toán ngân sách của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và địa phương.
2. Cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm thực hiện tạm cấp
ngân sách cho các nhiệm vụ chi không thể trì hoãn sau đây:
a) Chi lương và các khoản có tính chất tiền lương;
b) Chi nghiệp vụ phí và công vụ phí;
c) Chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới;
d) Một số khoản chi cần thiết khác để bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà
nước, trừ các khoản mua sắm trang thiết bị, sửa chữa;
đ) Chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án
quan trọng quốc gia; các dự án đầu tư chuyển tiếp quan trọng, cấp bách khác để
khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh.
3. Mức tạm cấp hằng tháng tối đa cho các nhiệm vụ quy định tại các điểm a, b, c
và d khoản 2 Điều này không quá mức chi bình quân 01 tháng của năm trước.
4. Chi đầu tư các chương trình, dự án sử dụng vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi
từ nhà tài trợ chưa được dự toán hoặc vượt so với dự toán được giao, Chính phủ
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi thực hiện và báo cáo
Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.