Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 114/2025/UBTVQH15

Điều 41. Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát

Căn cứ: Điều 41, 114/2025/UBTVQH15 — Nghị quyết 114/2025/UBTVQH15 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

Tóm tắt

Điều 41 quy định hồ sơ và trình tự Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát; đồng thời quy định nội dung chính của nghị quyết giám sát chuyên đề.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hồ sơ trình HĐND gồm: báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát; dự thảo nghị quyết giám sát chuyên đề; báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và tài liệu liên quan (nếu có).
  • ▸Trình tự xem xét: Trưởng Đoàn giám sát trình bày báo cáo; HĐND thảo luận; đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phát biểu (nếu có); người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo giải trình; HĐND xem xét, quyết định ban hành nghị quyết giám sát chuyên đề.
  • ▸Nghị quyết giám sát chuyên đề gồm: đánh giá kết quả, hạn chế, bất cập và nguyên nhân; trách nhiệm của các bên; giải pháp, thời hạn khắc phục; trách nhiệm thi hành; trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết.

Lưu ý dễ nhầm

  • Dễ nhầm lẫn giữa trình tự xem xét báo cáo của Đoàn giám sát (Điều 41) và của Thường trực HĐND, Ban của HĐND (Điều 42); điểm khác biệt là người trình bày báo cáo.
  • Lưu ý trong quá trình thảo luận, đại diện Đoàn giám sát có thể trình bày bổ sung, không phải bắt buộc.

Giải thích

Điều 41 quy định về việc Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát. Hồ sơ trình Hội đồng nhân dân gồm ba loại chính: báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát, dự thảo nghị quyết giám sát chuyên đề, và báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát kèm tài liệu liên quan (nếu có). Trình tự xem xét bắt đầu bằng việc Trưởng Đoàn giám sát trình bày báo cáo, sau đó Hội đồng nhân dân thảo luận (có thể có phát biểu bổ sung của đại diện Đoàn giám sát), tiếp theo là ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo giải trình, cuối cùng Hội đồng nhân dân quyết định ban hành nghị quyết giám sát chuyên đề. Nghị quyết này có bốn nội dung chính: đánh giá kết quả, hạn chế, bất cập và nguyên nhân; giải pháp và thời hạn khắc phục; trách nhiệm thi hành; trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện.
Nguyên văn Điều 41. Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát
1. Hội đồng nhân dân xem xét, thảo luận về báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát. Hồ sơ trình Hội đồng nhân dân bao gồm: a) Báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát; b) Dự thảo nghị quyết giám sát chuyên đề; c) Báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; tài liệu chứng minh và tài liệu khác có liên quan (nếu có). 2. Việc xem xét, thảo luận báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát theo trình tự sau đây: a) Trưởng Đoàn giám sát trình bày báo cáo kết quả giám sát; b) Hội đồng nhân dân thảo luận. Trong quá trình thảo luận, đại diện Đoàn giám sát có thể trình bày bổ sung về những vấn đề có liên quan; c) Đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan phát biểu ý kiến (nếu có); d) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo giải trình; đ) Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định việc ban hành nghị quyết giám sát chuyên đề. 3. Nghị quyết giám sát chuyên đề gồm những nội dung chính sau đây: a) Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân hạn chế, bất cập liên quan đến chuyên đề giám sát; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; b) Giải pháp, thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập; c) Trách nhiệm thi hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân; d) Trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết giám sát chuyên đề.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.