Điều 51. Kế hoạch thực hiện quy hoạch chung
Căn cứ: Điều 51, 47/2024/QH15 — Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15
Tóm tắt
Điều 51 quy định về việc lập, ban hành kế hoạch thực hiện quy hoạch chung; yêu cầu và nội dung của kế hoạch. Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch tổ chức lập và ban hành kế hoạch, trừ quy hoạch chung thuộc thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập và ban hành.
Ý chính cần nhớ
- ▸Căn cứ quy hoạch chung đã được phê duyệt, Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch tổ chức lập và ban hành kế hoạch thực hiện quy hoạch chung.
- ▸Đối với quy hoạch chung thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập và ban hành kế hoạch thực hiện.
- ▸Yêu cầu của kế hoạch: phù hợp nội dung quy hoạch đã được phê duyệt, quy định quản lý theo quy hoạch; bảo đảm tính khả thi về thời gian, nguồn lực, điều kiện tổ chức thực hiện; xác định rõ tiến độ, trách nhiệm; đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện và chế độ báo cáo.
- ▸Nội dung kế hoạch gồm: danh mục, tiến độ triển khai lập các cấp độ quy hoạch, thiết kế đô thị, quy hoạch không gian ngầm và quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật đối với thành phố trực thuộc trung ương theo kế hoạch 05 năm và hằng năm; dự kiến nhu cầu vốn hằng năm; phân công trách nhiệm; kế hoạch kiểm tra, giám sát; quy định đánh giá, báo cáo; nội dung khác có liên quan.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm rằng mọi kế hoạch thực hiện quy hoạch chung đều do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành; đối với quy hoạch chung không thuộc thẩm quyền Thủ tướng, Ủy ban nhân dân có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch ban hành.
- Bỏ sót nội dung kế hoạch bao gồm quy hoạch không gian ngầm và quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật đối với thành phố trực thuộc trung ương.
- Nhầm yêu cầu về tính khả thi chỉ gồm thời gian mà không bao gồm nguồn lực và các điều kiện tổ chức thực hiện.
Giải thích
Nguyên văn Điều 51. Kế hoạch thực hiện quy hoạch chung
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.